Nước giếng là một phần của nước ngầm, là lượng nước tích tụ trong các tầng đất đá dưới mặt đất. Nước ngầm có thể thông nhau thành mạng lưới lớn, di chuyển hàng km. Bộ Y tế từng ghi nhận nhiều mẫu nước giếng tại khu dân cư và chăn nuôi dương tính với E.coli và Coliform, là các vi khuẩn gây bệnh đường ruột.

Quá trình hình thành nước giếng: tích tụ của nước, các chất trên bền mặt và lòng đất
Trên thực tế, nước ngầm không phải là “nguồn vô tận” hay luôn “tự nhiên, sạch sẽ”, mà thực chất là nước mưa, nước mặt đã đi qua đất đá, tích tụ dưới lòng đất, chịu ảnh hưởng của cả điều kiện địa chất lẫn hoạt động con người.
Mưa, sông, hồ thấm xuống đất
Khi trời mưa hoặc nước mặt từ sông, ao hồ, một phần sẽ chảy đi, phần khác thấm dần qua các lớp đất, cát, sỏi. Nước thấm xuống sâu, gặp những lớp đất đá không thấm (như đất sét, đá gốc) thì bị giữ lại và dồn vào các “tầng chứa nước”. Đây chính là “kho chứa” khổng lồ của nước ngầm.
Dưới lòng đất, các mạch nước có thể thông nhau hoặc tách biệt, tùy thuộc vào cấu trúc địa chất. Ở những nơi địa chất rỗng (đá vôi karst, cát, sỏi), nước ngầm có thể thông nhau thành mạng lưới lớn, di chuyển hàng km, nhưng nếu bị ngăn bởi lớp đất sét, đá granit, thì các mạch nước sẽ cô lập, không giao thoa với nhau.
Nước ngầm di chuyển rất chậm, có nơi chỉ vài cm đến vài mét mỗi năm. Khi một giếng khoan hút nước lên chính là đang khai thác phần nước tích tụ từ nhiều năm, thậm chí hàng chục, hàng trăm năm trước.
Khoan giếng tạo “lối đi” xuống tầng chứa
Khi khoan hoặc đào giếng, mũi khoan xuyên qua các lớp đất đá và chạm đến tầng chứa nước. Ống giếng giống như một “đường ống dẫn” mở ra, cho phép nước trong tầng ngầm chảy vào.
Trong lòng đất, nước luôn chịu áp lực từ mực nước cao hơn. Khi có một “lỗ thoát” là giếng khoan, nước sẽ tự chảy vào và dâng lên trong ống giếng đến mức cân bằng với mực nước ngầm xung quanh. Nếu tầng chứa nước có áp lực mạnh, nước thậm chí có thể phun lên.
Sự xâm nhập của hoá chất, vi khuẩn vào nguồn nước
Quá trình hình thành nước ngầm khi đi qua các tầng đất đá vẫn có tác dụng “lọc tự nhiên”, loại bỏ một phần cặn bẩn và vi sinh, nhưng không ngăn được các chất hòa tan như asen, nitrat, amoni, muối, kim loại nặng hay hóa chất từ phân bón và nước thải công nghiệp. Mỗi vùng địa chất lại tạo ra đặc thù riêng: nước cứng ở vùng đá vôi, nước nhiễm phèn, nhiễm mặn.
Các giếng đào hoặc giếng khoan nông thường chỉ khai thác tầng nước sát mặt đất. Tầng này dễ dàng bị nhiễm bẩn từ hầm chứa phân, hố xí, chuồng trại, rác thải, đường cống thoát nước sinh hoạt nếu chúng nằm gần hoặc bị rò rỉ.
Ngoài ra, hoạt động sinh hoạt và chăn nuôi còn khiến nước giếng nhiễm vi khuẩn E.coli, Coliform. Vì vậy, dù trong và mát, nước giếng không thể coi mặc định là an toàn, cần được kiểm tra và xử lý trước khi uống để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Năm 2023, Bộ Y tế ghi nhận nhiều mẫu nước giếng tại khu dân cư và chăn nuôi dương tính với E.coli và Coliform, là các vi khuẩn gây bệnh đường ruột. Nghiêm trọng hơn là tình trạng ô nhiễm kim loại nặng ở các làng nghề. Tại một số khu vực nhhuw Hưng Yên và Bắc Ninh, nước giếng ở khu tái chế chì có hàm lượng chì, cadimi vượt hàng chục lần mức cho phép của QCVN 01-1:2018/BYT. Ở Hà Nội và Hà Nam, asen trong nước giếng vẫn là vấn đề cấp bách, có liên hệ trực tiếp tới ung thư da và bệnh tim mạch.
Ngoài ra, miền núi phía Bắc thường xuyên gặp hiện tượng nước giếng nhiễm phèn do sắt cao, còn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đối diện tình trạng giếng nhiễm mặn do xâm nhập mặn ngày càng sâu.
Ô nhiễm trong nước giếng tác động trực tiếp tới sức khỏe cộng đồng. Asen gây ung thư và tổn thương da, chì ảnh hưởng hệ thần kinh, đặc biệt với trẻ em, làm giảm trí nhớ và IQ, nitrat và nitrit có thể gây hội chứng “ngạt xanh” ở trẻ sơ sinh, natri trong nước mặn làm tăng nguy cơ cao huyết áp.
Nước giếng vẫn là nguồn cung cấp nước phổ biến tại khu vực nông thôn
Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2022 của Bộ Tài nguyên & Môi trường, khoảng 17,2 triệu hộ nông thôn, tức hơn một nửa dân số nông thôn, vẫn dựa vào nước giếng khoan cho sinh hoạt hằng ngày. Con số này phản ánh sự phụ thuộc lớn vào nguồn nước ngầm, kèm theo những nguy cơ tiềm ẩn cho sức khoẻ và địa chất. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, khai thác quá mức khiến mực nước ngầm giảm 0,5 – 1 m/năm (2020 – 2022), kéo theo sụt lún đất và xâm nhập mặn gia tăng.
Đến năm 2023, theo Bộ Y tế, 97% người dân nông thôn đã được tiếp cận nước sinh hoạt hợp vệ sinh và 57% sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn. Nhiều tỉnh đã mở rộng đáng kể mạng lưới cấp nước tập trung. Những con số này cho thấy sự phụ thuộc vào giếng khoan đang giảm dần, dù chưa thể chấm dứt trong một sớm một chiều.
Nước giếng có thể lọc?
Chuyển đổi sang nước máy là xu hướng tất yếu, nhưng với những vùng chưa thể tiếp cận, việc xử lý nước giếng là giải pháp tạm thời và cần thiết. Hiện nay, việc kết hợp các công nghệ, thiết bị cũng giải quyết phần nào nước uống, nấu ăn cho người dân. Với công nghệ CDIs Hybrid, kết hợp giữa rõi CDIs và RO có thể giải quyết triệt để, đáp ứng tiêu chuẩn nước đóng bình đóng chai, 26 chỉ tiêu theo quy định của Bộ y tế.
Với nước giếng nhiễm asen hoặc kim loại nặng, nhiễm phèn, nhiễm mặn, khuyến khích sử dụng hệ thống lọc tổng đầu nguồn để cung cấp nước sinh hoạt, tắm rửa, vừa bảo vệ sức khoẻ, vừa bảo vệ thiết bị, ngăn mảng canxi, đóng cặn, gỉ sét./..



